Adam Smith và ngân hàng tiến bộ

Ngân hàng đã được tạo lập tốt ở Đế quốc Anh khi Adam Smith hình thành vào năm 1776 với lý thuyết "bàn tay vô hình" của ông. Được thôi thúc bởi ý kiến của ông về một nền kinh tế "tự yếu tố chỉnh", các nhân viên ngân hàng và chủ ngân hàng đã nỗ lực hạn nhạo báng sự nhập cuộc của nhà nước trong ngành nghề ngân hàng và toàn thể nền kinh tế. Chủ nghĩa tư bản thị trường tự do và nhà băng khó khăn này đã tìm thấy mảnh đất màu mỡ ở Quả đât mới, nơi Mỹ đã sẵn sàng xuất hiện.

Ban đầu, những ý nghĩ đó của Smith không hữu ích cho ngành nhà băng Mỹ. Vòng đời trung bình của một ngân hàng ở Mỹ là 5 năm, sau đó gần như giấy bạc trong khoảng các ngân hàng bị mặc định trở nên vô trị giá. Chung cục, các ngân hàng có vốn vấn đề lệ nhà nước này chỉ có thể phát triển giấy bạc đối với tiền vàng và bạc mà họ dự trữ trong kho.

Một vụ cướp ngân hàng có ý nghĩa lớn hơn đa dạng so với hiện nay, trong thời công chúng ta đều được tiếp xúc với bảo hiểm tiền gửi và Tổ chức Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang (FDIC). 

Alexander Hamilton, Bộ trưởng Nguồn vốn khi đó, đã xây đắp một ngân hàng đất nước hài lòng giấy bạc tại ngân hàng thành viên là ngang giá, do đó, nhờ đó mà các ngân hàng sống sót qua thời kỳ khó khăn. Nhà băng giang sơn này, sau một số lần trợ thì dừng, tiếp diễn, hủy bỏ và hồi sinh, đã sản xuất một loại tiền tệ giang sơn thống nhất và xây dựng một chuỗi hệ thống mà các nhà băng non sông ủng hộ giấy bạc của họ bằng bí quyết tậu chứng khoán Kho bạc, từ đó phát hành một hoạt động mua bán thanh khoản. Duyệt y việc áp thuế đối với các ngân hàng không tuân theo quy định, các ngân hàng tổ quốc đã tăng cường cạnh tranh thông thường.

Tuy nhiên, thiệt hại là chẳng thể phủ kiếm được bởi người Mỹ ngày một mất lòng tin vào các ngân hàng và chủ ngân hàng nói phổ biến. Cảm giác này làm tiểu bang Texas thực thụ đặt ra luật lệ cho các chủ nhà băng, một đạo luật sinh tồn tới năm 1904.

Ngân hàng thương nghiệp

Tất cả các nhiệm vụ kinh tế sẽ được xử lý bởi hệ thống ngân hàng non sông, khi mà đó việc buôn bán như cho vay và tài chính đơn vị thường rơi tham gia tay các ngân hàng thương mại lớn, bởi vì hệ thống ngân hàng quốc gia thường rất rời rạc. Trong giai đoạn bất ổn kéo dài cho đến những năm 1920, các nhà băng thương nghiệp này đã phát triển các liên kết mang tính quốc tế về cả sức mạnh chính trị và tài chính

Những nhà băng này bao gồm Goldman Sachs, Kuhn, Loeb, và J.P. Morgan. Ban đầu, họ phụ thuộc phần lớn tham gia hoa hồng từ việc bán trái khoán nước ngoài trong khoảng châu Âu, với một nhánh nhỏ tuổi của thương lượng trái khoán Mỹ ở châu Âu. Điều này cho phép họ xây đắp nguồn vốn.

Vào thời điểm đó, một nhà băng không có bổn phận pháp lý phải tiết lộ số tiền dự trữ vốn của mình, một dấu hiệu cho thấy khả năng tồn tại của các khoản cho vay lớn. Thực tiễn bí ẩn này đồng nghĩa tăm tiếng và lịch sử của một nhà băng quan trọng hơn bất cứ nhân tố gì. Hình như các nhà băng mới nổi xây cất và tan rã chớp nhoáng, thì các gia tộc chiếm hữu ngân hàng thương mại có lịch sử lâu đời về những thương vụ chiến thắng. Khi lĩnh vực công nghệ lớn hình thành và tạo ra ý định về vốn đầu tư đơn vị, số lượng vốn cần thiết chẳng thể được cung cấp đủ bởi bất kỳ một ngân hàng độc thân nào, và bởi vậy, IPO và chào bán trái phiếu tới quần chúng biến thành cách thức duy nhất để tăng lượng vốn quan trọng.

Quần chúng ở Mỹ và các nhà đầu tư nước ngoài ở Châu Âu biết rất ít về đầu tư, do thực tại là việc báo cáo tin tức không được thực thi một bí quyết hợp lí. Những trắc trở này phần nhiều bị bỏ dở khi đại chúng mở đầu nhận thức về sự sống sót các nhà băng bảo lãnh sản xuất. Do đó, các phục vụ chiến thắng đã khiến cho tăng tên tuổi của một ngân hàng giúp nó được quyền đòi hỏi nhiều hơn. Vào cuối những năm 1800, phổ thông nhà băng yêu cầu một vị trí trong hội đồng quản trị của các công ti kiếm tìm vốn, và giả dụ ban chỉ đạo chẳng thể khiến cho tốt, họ tự quản lý các công ti.

Morgan và sự độc quyền

J.P. Morgan and Company nổi lên như một trong các nhà băng thương mại bậc nhất vào cuối những năm 1800. Nó được đoàn kết trực tiếp với London, sau này trở thành trọng tâm nguồn vốn của thế giới và có manh mối chính trị khác biệt ở Mỹ. Morgan and Co. đã sản xuất US Steel, AT & T, và International Harvestester, cũng như các công ty độc quyền và hầu hết độc quyền trong ngành nghề kĩ nghệ con đường sắt và vận tải biển, chuẩn y việc sử dụng niềm tin và sự coi thường Đạo luật chống độc quyền của Sherman.

Mặc dầu tham gia buổi rạng đông của những năm 1900, các ngân hàng thương nghiệp được xây dựng và hoạt động tương đối bất biến, người Mỹ tầm thường rất không dễ dàng có thể mượn được tiền từ họ. Các nhà băng này đã không lăng xê và họ thi thoảng khi mở mang tín dụng cho những tầng lớp "dân gian". Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc cũng lan rộng và, dù rằng các chủ nhà băng Do Thái và Anh - Mỹ phải làm cho việc cùng nhau trong các nhân tố lớn, khách hàng của họ đã bị phân phối theo các phân khúc và chủng tộc rõ ràng. Các ngân hàng này đã để lại các khoản vay tiêu xài cho các nhà băng nhỏ hơn đang thất bại ở mức báo động.

Khủng hoảng năm 1907

Sự kiện cũ rích phiếu của một công ti ủy thác sụp đổ đã gây ra sự hoảng loạn làm cho đại chúng đổ xô rút tiền ra khỏi nhà băng và các khoản đầu cơ, khiến cổ lỗ phiếu đi xuống. Không có Nhà băng Dự trữ Liên bang hành động để trấn an quần chúng, nhiệm vụ đã rơi tham gia JP Morgan, bằng cách sử dụng hàng ngũ của bản thân, tập phù hợp hồ hết những tay to trên Phường Wall nhằm nhân tố động nguồn đầu tư và vốn mà họ kiểm soát, giống như Fed sẽ làm ngày nay.

Mỹ Linh

Theo Trí thức trẻ/Investopedia


Có thể bạn quan tâm: gia dat saigon